Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

Rôma 4: "MINH HOẠ CỦA CỰU ƯỚC VỀ SỰ XƯNG CÔNG BÌNH BỞI ĐỨC TIN"


Minh hoạ của Cựu Ước
về sự xưng công bình bởi đức tin 

Phần giới thiệu

Fred Bowlby, chủ tiệm rượu địa phương  The Pig and the Whistle, đã trở nên nổi tiếng vì Chiếc Ghế Phán Xét, một chiếc ghế mây với nệm vàng, bị xích cố định trong tiệm rượu ở phía Tây Luân đôn. Bất cứ ai dám ngồi lên chiếc ghế nầy sẽ được dâng rượu uống miễn phí. Một tay khéo lừa trong thành phố đã chấp nhận lời thách thức và đã gục chết ngay tại chỗ. Charlie Skinner, kẻ nát rượu trong thành phố, có lẽ đã không định ngồi trên chiếc ghế ấy, nhưng vô tình ngồi lên ‘chiếc ghế giết người’ kia, thi thể ông ta đã được thấy trong dòng sông, ông ta đã chết chìm ở đó.
Linh mục Duddleswell cho rằng không có đức tin dẫn tới sự mê tín, và vì thế ông đã bị chủ tiệm rượu kia thách thức đến ngồi lên chiếc ghế. Vị linh mục nầy tìm ra nhiều lý do, nhưng lời đề nghị hiến cho hàng trăm đồng và áp lực của công chúng khiến cho ông khó mà từ chối được. Ông đồng ý ngồi lên chiếc ghế mỗi ngày trong một tuần vào đúng giờ ấn định. Khi tuần lễ trôi qua, ông tự hào vác cái ghế về nhà rồi trưng bày nó trong phòng đọc sách của ông.
Được người cộng sự ngợi khen vì lòng can đảm ấy, vị linh mục ngần ngại xưng nhận rằng ông không có can đảm để làm việc ấy. Ông đã tìm được một cái ghế giống hệt trong một cửa hàng bán đồ cổ, và với sự giúp đỡ của vợ chủ quán, đã đổi hai chiếc ghế vào lúc giữa đêm. Chiếc ghế thật ông đã đem chôn ở trong vườn.
Tuy nhiên, sự việc chẳng được lâu trước khi Fred Bowlby, chủ tiệm rượu, đến tại nhà của vị linh mục để nói: “Cha ơi, ông biết đấy, đây không phải là Doomsday Chair”, ông ta vừa nói vừa chỉ vào chiếc ghế đặt trong phòng. “Cha ơi, ông thấy đấy, sau khi Charlie Skinner chết chìm tôi đã tìm được chiếc ghế giống hệt trong cửa hàng bán đồ cổ và đã thay cho chiếc ghế chết người kia, vì sợ có ai đó sẽ chết nữa”.
Vị linh mục hỏi: “Còn cái chết thật kia thì ông đã làm gì với nó?” “Ồ, tôi đã chôn nó trong vườn rồi, nhưng vợ tôi là người rất thích làm vườn, tôi biết bà ấy đã tìm được nó. Vì vậy tôi đưa cái ghế thật cho cửa hàng bán đồ cổ kia rồi nói cho họ biết phải gửi nó về lại một khi nó không còn thích hợp để trưng bày ở đây nữa”. Fred khen ngợi đức tin của vị linh mục nầy, mặc dù chiếc ghế kia không phải là chiếc ghế chết người, ông đã hành động với sự can đảm khi chấp nhận sự thách thức của người chủ tiệm rượu.
Khi Fred ra về, Linh mục Duddleswell ngã sụp xuống ghế salon của mình, mặt mày tái mét. Ông mau chóng bảo người cộng sự của mình đào ngay một cái hố khác trong vườn [Adapted from ‘The Doomsday Chair’ by Neil Boyd, Reader’s Digest, April, 1978, pp. 100-104].
Giờ đây, có một số người trong chúng ta sẽ muốn có loại đức tin đã được thể hiện bởi Linh mục Duddleswell. Nhưng đức tin được thể hiện trong Rôma 4 là một vấn đề khác. Đây là loại đức tin bởi đó một người được xưng nghĩa và được Đức Chúa Trời tuyên bố là công bình.
Ba chương đầu tiên của sách Rôma đã được trình bày để minh chứng rằng hết thảy mọi người đều sa vào sự phán xét của Đức Chúa Trời. Dân Ngoại: vì họ đã chối bỏ bằng chứng tỏ ra trong sự sáng tạo (1.18-20); người Do thái: vì họ thất bại không sống theo các tiêu chuẩn của Luật pháp (Rôma 2.17-29).
Các tin xấu nói tới sự xét đoán chung nhất (Rôma 3.10-18) đã bị che phủ bởi những tin tốt nói tới một sự công bình của Đức Chúa Trời được cung ứng cho hết thảy những ai tin theo Đức Chúa Jêsus Christ  (Rôma 3.21-26). Điều chi con người không thể làm được bởi các nổ lực riêng của mình, Đức Chúa Trời đã làm trong Thân Vị và công tác của Con Ngài, là Đức Chúa Jêsus Christ. Sự chết của Ngài đã làm nguôi cơn giận công bình của Đức Chúa Trời đối với hạng tội nhân. Sự chết và sự sống lại của Ngài cung ứng sự công bình mà con người cần phải được Đức Chúa Trời xưng nghĩa cho. Đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ khiến cho con người được sự công bình mà không cần phải tuân giữ Luật pháp.
Đối với người Do thái, các tin tốt của Tin Lành nghe như một việc hoàn toàn mới mẻ. Nó xuất hiện như đối kháng với Luật pháp Cựu Ước. Đây là lý do tại sao Phaolô  hỏi: Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp (Rôma 3.31).
Sự chống báng đối với việc rao giảng Tin lành của Phaolô về sự xưng công bình bởi đức tin hoàn toàn được biệt riêng ra bởi trường hợp của Ápraham,là người được xem là tổ phụ của người Do thái. Nếu Ápraham được xưng công bình bởi đức tin, thì chắc chắn sự dạy của Phaolô chẳng có gì mới cũng chẳng có bất trung với đức tin của Israel trong kỷ nguyên Cựu Ước. Như chúng ta sẽ nhìn thấy ngay, ấy chẳng phải Phaolô là người đã dứt bỏ ‘đức tin của tổ phụ chúng ta’ bèn là người Do thái.

Ápraham được xưng công bình bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi việc làm (4.1-8)

Phaolô đã sốt sắng khảo sát tỉ mỉ tận ‘gốc rễ’ của người Do thái. Đâu là kinh nghiệm của Ápraham trong vấn đề xưng công bình nầy? Ông được xưng công bình bởi đức tin hay bởi việc làm? Vậy, chúng ta sẽ nói Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được ích gì? (Rôma 4.1). Nếu Ápraham được xem là bởi việc làm mà được cứu, thế thì ông sẽ có một việc gì đó để mà khoe mình. Và tất nhiên, bởi sự dính dáng sẽ có một việc gì đó người Do thái sẽ khoe mình. Người Do thái đã sai khi cho rằng Ápraham được cứu bởi việc làm. Mục sư A. T. Robertson cho chúng ta biết rằng “các thầy rabi có một lẽ đạo nói tới những công trạng của Ápraham đã có thừa uy tín để chuyển giao cho người Do thái” [Archibald T. Robertson, Word Pictures in the New Testament (Nashville. Broadman Press, 1931), IV, p. 350]. Nhưng Kinh Thánh nói rõ rằng Ápraham không thể khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời vì ông được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm.Vì Kinh Thánh có dạy chi? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người (Rôma 4.3).
Nếu sự xưng công bình dựa trên cơ sở mọi việc làm của chúng ta, chúng ta sẽ đối diện với một vài nan đề. Thứ nhứt, con người sẽ có cớ mà khoe mình. Chắc chắn điều nầy là sai, vì chúng ta dựng nên và được cứu để ngợi khen và làm sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời, chớ không phải để khoe về bản thân mình. Thứ hai, chúng ta làm việc dưới một hệ thống bó buộc, thay vì ở dưới ân điển. Ở dưới ân điển, Đức Chúa Trời được tự do ban cho chúng ta những gì chúng ta không đáng được, trong khi ở dưới sự bó buộc, Đức Chúa Trời phải cung ứng cho chúng ta chính xác những gì chúng ta đáng được — và, ai muốn như thế? Thứ ba, điều nầy ngược lại với cả Kinh Cựu và Tân Ước, vì trong Sáng thế ký 15.6 chúng ta biết: Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.
David đã đồng ý với những gì Kinh Thánh ghi lại về sự xưng công bình bởi đức tin của Ápraham, không phải bởi việc làm, vì ông viết: Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, tội mình được che đậy! Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho! (Rôma 4.7-8).
Phần trưng dẫn nầy từ Thi thiên 32 nhấn mạnh mặt tiêu cực của việc dựa vào, kể đến diễn ra trong sự công bình của hạng tội nhân. Tội lỗi của người nào tin cậy nơi Đức Chúa Trời sẽ không được kể cho người nữa, mà được Đức Chúa Trời tha thứ và quên hẳn đi. Giống như sự công bình của Đấng Christ được gắn cho chúng ta vậy — nghĩa là, sự ấy được ghi vào sổ của chúng ta  —  để những việc làm riêng của chúng ta không đứng nghịch cùng chúng ta.
Từ ngữ “kể” là một từ có tính cách đếm và nó chỉ ra việc đếm một điều gì đó, một là bên có hoặc là bên mất của chúng ta. Khi chúng ta được xưng công bình bởi đức tin, tội lỗi của chúng ta không còn được kể nghịch cùng chúng ta nữa, như chúng đáng phải có, còn sự công bình của Đấng Christ thì được ghi vào bên có của chúng ta một cách giàu ơn.
Tôi từng biết một người ở trong nhà tù của Dallas County, là kẻ dùng cách nầy hay cách khác để xui người giữ bản thành tích viết thành tích của ông ta rằng ông ta bị tố cáo về một tội khác và sẽ được đưa ra xét xử mau chóng. Dù vậy, ông ta vẫn không bị gạt ra khỏi tình trạng chịu án phạt. Trong con mắt của luật pháp, đã có một bản án nghịch lại ông ta rồi. Án ấy được ‘kể’ cho ông ta. Nhưng trong trường hợp của David, ông chẳng có một sự cáo giác nào trong hồ sơ của ông cả, dù là một tội nhân, vì Đức Chúa Trời đã không gán tội lỗi cho ông.
Vậy, cả Ápraham và David đều đưa ra bằng chứng cho cùng một lẽ thật. Trong Cựu Ước, người ta không được xưng công bình bởi việc làm, mà bởi đức tin .

Ápraham được xưng công bình trong khi vẫn còn là một dân Ngoại (4.9-12)

Như vậy, Ápraham và David (và vì lẽ đó tất cả các thánh đồ trong thời Cựu Ước) đều được xưng công bình bởi đức tin, không phải bởi việc làm, là một viên thuốc đắng cần phải nuốt cho người Do thái. Nhưng Phaolô không bằng lòng dừng lại ở đây, vì có nhiều điều cần phải tiếp thu từ đức tin của Ápraham. Ít nhất người Do thái sẽ tự yên ủi mình trong sự thực Ápraham là một người Do thái, chớ không phải là dân Ngoại. Nếu Ápraham được cứu là một người Do thái, thế thì sao người Do thái không khẳng định mỗi người được cứu đều là người Do thái đi (đối chiếu Công Vụ các Sứ Đồ  15.1…)? Phaolô dìm hy vọng nầy xuống bằng cách chỉ ra Ápraham đã được xưng là công bình đang khi còn là một người dân Ngoại.
Ở cái nhìn đầu tiên, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng các câu 9-12 được dự trù để minh chứng rằng Ápraham đã được cứu bởi đức tin chớ không phải bởi việc làm; đặc biệt, không phải bởi nghi thức cắt bì. Mặc dù đây là sự thực, nó vẫn chưa phải là mục tiêu chính mà Phaolô đang phấn đấu để chứng minh. Mục tiêu mà Phaolô đang phấn đấu là tính phổ quát của sự xưng công bình bởi đức tin và sự xưng công bình nầy không phải chỉ dành cho người Do thái, mà còn cho dân Ngoại nữa.
Ápraham được cứu khi là người Do thái hay khi còn là dân Ngoại? Ápraham được xưng công bình là kẻ đã chịu phép cắt bì hay chưa chịu phép cắt bì? Ápraham, trong Sáng thế ký 15.6, được xưng công bình trên cơ sở đức tin 14 năm trước khi ông chịu phép cắt bì (so sánh Sáng thế ký 15.6 với 17.24). Theo từng lời thì Ápraham đã được cứu khi là một dân Ngoại, và không phải là một người Do thái, vì ông chưa bước vào Do thái giáo qua phép cắt bì, ông cũng không có Luật pháp để giữ nữa. Đúng là một trận đòn cho người Do thái nào cứ khư khư rằng một người không thể được cứu mà không trở thành một người Do thái qua phép cắt bì và tuân giữ luật pháp (Công Vụ các Sứ Đồ  15.1)!
Vậy thì, đâu là giá trị của phép cắt bì? Nếu bước vào Do thái giáo qua phép cắt bì thì chẳng có pần gì trong sự xưng công bình của một người, vậy thì tốt ở chỗ nào? Phép cắt bì không phải là nguồn của ơn cứu rỗi của chúng ta, mà chỉ là dấu hiệu của ơn ấy mà thôi. Phép cắt bì là bằng chứng biểu tượng cho những gì đã xảy ra ở bên trong người nào đã được xưng công bình bởi đức tin.
Sự hiện diện của cái nhãn kiểm định trên xe hơi của bạn không khiến cho chiếc xe đó đủ tư cách chạy trên đường, mà nó tiêu biểu cho kiểu dáng thấy được bằng mắt thường thích đáng chạy trên đường. Mặt khác, dán một cái nhãn kiểm định trên xe với mấy cái lốp xe mòn nhẵn, bộ phận giảm thanh lỗi thời, và bộ thắng không còn hữu hiệu cho việc lái xe nữa thì chẳng có ích chi hết. Phép cắt bì là một con dấu, nó chứng thực đức tin của Ápraham. Nó biểu hiện cho thấy rằng ông là công bình trong ánh mắt của Đức Chúa Trời.
Kết quả của mọi điều nầy, ấy là Ápraham là ‘tổ phụ’ của tất cả những ai được xưng công bình bởi đức tin. Ông là tổ phụ của những người nào được xưng công bình bởi đức tin và chưa gia nhập vào Do thái giáo và của tất cả những tín đồ nào cũng là người Do thái. Là người Do thái hay dân Ngoại không cần phải mang lấy sự xưng công bình của ai khác, cũng không phải tuân giữ Luật pháp và các nghi thức Cựu Ước. Yếu tố quyết định duy nhứt là đức tin của người ấy nơi Thân Vị và việc làm của Đức Chúa Jêsus Christ mà thôi.

Các lời hứa của Đức Chúa Trời được nhìn nhận bởi đức tin, chớ không phải bởi tuân giữ Luật pháp (4.13-16)

Ở các câu 13-17, tôi thấy có phần nhấn mạnh khá sơ nét ở đây. Người Do thái không những đang tìm kiếm sự công bình và sự xưng công bình riêng ở trước mặt Đức Chúa Trời, mà còn tìm cách dự phần vào việc kinh nghiệm các lời hứa của Đức Chúa Trời cho Israel như một dân tộc nữa. Ở các câu 13-17, Phaolô  nói rõ ràng rằng giống như sự xưng công bình đạt được bởi đức tin, cũng vậy các lời hứa của Đức Chúa Trời cũng nhìn biết được bởi đức tin. Nếu tôi nhớ đúng, thì người Do thái đã tin rằng nếu có một ngày mà dân tộc chịu ở trong luật pháp, thì Đấng Mêsi sẽ ngự đến. Nếu người Do thái nghĩ như thế, họ sẽ được cứu bởi đức tin, nhưng tiếp nhận ơn phước của Đức Chúa Trời qua cách tuân giữ luật pháp, Phaolô đặt sai lầm nầy vào các câu sau đây:Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Áp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin (Rôma 4.13).
Sẽ chẳng cần gì đến đức tin nếu con người trở nên kẻ thừa tự nhờ vào Luật pháp, và lời hứa sẽ chẳng có hiệu lực và hư không, vì việc duy nhứt Luật pháp có thể tạo ra là sự giận và sự xét đoán (Rôma 4.14, 15). Cho nên Đức Chúa Trời có thể hành động phù hợp với nguyên tắc của ân điển, và để cho con người có thể tin vào việc kinh nghiệm mọi lời hứa của Đức Chúa Trời, nguyên tắc ấy dựa theo đức tin chớ không căn cứ vào Luật pháp (4.16). Khi ơn phước của Đức Chúa Trời căn cứ theo đức tin mà không căn cứ vào việc tuân giữ Luật pháp, chúng được bảo đảm cho những ai đang thuộc về Luật pháp (người Do thái) và những kẻ nào không phải là người Do thái (dân Ngoại), nhờ vào đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Một lần nữa, Ápraham là tổ phụ của hết thảy chúng ta, nghĩa là của chúng ta hết thảy những ai tin bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ.

Đức tin của Ápraham giống với đức tin mà Tin Lành đòi hỏi (4.17-25)

Vậy chúng ta nhận rằng mọi sự chúng ta lãnh hội từ Đức Chúa Trời phải chiếu trên cơ sở đức tin, nhưng không phải đức tin của Ápraham rất khác biệt với đức tin đang bị đòi hỏi hôm nay sao? Không phải đâu, Phaolô nói cho chúng ta biết, đức tin ấy chính là điều mà ngày nay đòi hỏi đó:  
“… trước mặt Đức Chúa Trời, tức là Đấng người đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi (4.17).
Jules Henri Poincare, khi ca ngợi ký ức của ngừoi bạn nổi bật của mình, đã thốt ra mấy câu nầy: “Người ta tin nơi Đức Chúa Trời nhiều hay ít thì chẳng quan hệ gì; đó là đức tin chớ chẳng phải Đức Chúa Trời làm ra nhiều phép lạ” [Wilbur M. Smith, Therefore, Stand (Grand Rapids. Baker Book House, 1945), p. 192].
Với câu nói nầy, Phaolô tuyệt không đồng ý, vì ông nói rất đơn giãn rằng chính đối tượng của đức tin tạo ra tất cả sự khác biệt giữa thiên đàng và địa ngục.
Đức tin của Ápraham đã đặt vào Đức Chúa Trời là Đấng có thể dựng nên một vật từ chỗ không không. Mọi cơ hội của ông lâu nay muốn có một đứa con, đều là con số không. Ông và Sara hầu như đã chết rồi. Tuy nhiên, Ápraham đã tin cậy Đức Chúa Trời dựng nên một việc từ chỗ không không đó, một đứa con trai từ một cụ già và một phụ nữ son sẻ.
Ápraham cũng tin nơi một Đức Chúa Trời, Ngài có thể làm cho kẻ chết sống lại. Điều nầy rất rõ ràng trong đức tin của ông nơi lời hứa có một con trai từ gan ruột của ông và Sara, vì họ cả hai đều hầu như đã chết rồi không có khả năng sanh con cái được nữa: Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém (Rôma 4.19). Không một chỗ nào cho thấy đức tin đặt nơi khả năng Đức Chúa Trời làm sống lại kẻ chết rõ ràng hơn nơi sự Ápraham bằng lòng dâng Y-sác con ông làm của lễ thiêu (Sáng thế ký  22).
Thêm nữa, đức tin của Ápraham là đức tin không đặt trên những trở ngại cho đức tin, mà đặt trên đối tượng của đức tin. Có một chỗ khó khăn nhỏ trong nguyên văn ở câu 19, một số bản dịch bỏ sót chữ “không”, một số bản dịch khác thì thêm chữ nầy vào. Vì thế có những bản dịch đọc là: người không thấy thân thể mình, giờ đây hầu như đã chết rồi. Ý ở đây là Ápraham không nhắm vào những trở ngại, mà nhắm vào Đức Chúa Trời. Các bản dịch khác đọc như sau: người thấy thân thể mình hao mòn …”. Khi ấy chúng ta hiểu rõ phần nhấn mạnh đặt trên sự kiện Ápraham vốn biết rõ mọi khó khăn, song đức tin chẳng kém.
Dù là thế nào đi nữa, mục đích cho thấy Ápraham, dầu có những trở ngại nhiều về phía con người, đã tin cậy Đức Chúa Trời làm y như Ngài đã hứa. Đức tin của ông nhìn qua mọi chướng ngại và chú tâm vào đối tượng của đức tin, là Đức Chúa Trời. Vì cớ loại đức tin nầy, Ápraham đã được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời.
Giờ đây các kinh nghiệm của Ápraham chẳng phải là không có phần ứng dụng cho chúng ta hôm nay. Vì đấy chính là loại đức tin mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi con người ngày hôm nay. Chúng ta phải công nhận mình chỉ là vô dụng khi bước vào thiên đàng của Đức Chúa Trời bằng sự công bình riêng của mình, còn Ápraham được xưng công bình để trở thành cha của một dân lớn. Chúng ta phải tin Đức Chúa Trời cung ứng sự công bình cho chúng ta giống như Ápraham đã tin Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa về một đứa con. Cũng vậy, chúng ta phải tin nơi một Đức Chúa Trời, Ngài có quyền phép trên sự chết và mồ mả. Ápraham đã tin nơi Đức Chúa Trời “là Đấng ban sự sống cho kẻ chết” (câu 17). Vì thế, chúng ta phải tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã sống lại từ kẻ chết.
Giờ đây chẳng phải vì cớ ông mà Kinh Thánh ghi rằng: “Điều đó được kể cho người”, mà cũng vì cớ chúng ta nữa, điều đó cũng được kể cho chúng ta, là những kẻ tin nơi Ngài là Đấng đã làm cho Jêsus Chúa chúng ta sống lại từ kẻ chết, Ngài là Đấng bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự xưng công bình chúng ta  (Rôma 4.23-25).
Cho nên loại đức tin đòi hỏi nơi Ápraham đặc biệt chính là loại đức tin đòi hỏi nơi người ta hôm nay. Luật pháp không cứ cách nào đó được biệt riêng ra, thay vì thế, luật pháp được tái khẳng định bởi Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ. Phương thức cứu rỗi của Đức Chúa Trời không hề thực thi bởi việc làm, và luôn luôn được thực thi bởi ân điển nhờ đức tin.

Phần ứng dụng

(1) Sự cứu rỗi không có được bởi việc làm, mà chỉ bởi đức tin. Rõ ràng là con người chẳng có thể góp phần gì vào ơn cứu rỗi của mình. Mọi sự đều thuộc về Đức Chúa Trời; mọi sự đều thuộc về ân điển. Và nguyện chúng ta đừng tạo ra một nổ lực nào xưng nhận bất cứ phần nào trong ơn cứu rỗi của chúng ta bằng cách cho rằng đức tin là việc làm của chúng ta, thậm chí vì đấy là sự ban cho của Đức Chúa Trời (đối chiếu Êphêsô 2.8, 9; Công Vụ các Sứ Đồ  13.48, 16.14).
Trong tuần lễ nầy, tôi có trao đổi với một người đã cảm thấy rằng chúng ta phải đóng góp cái gì đó vào ơn cứu rỗi của chúng ta. Tôi nói cho ông ấy biết tội lỗi của con người giống như có hai bàn tay dính đầy mỡ. Khi tôi ngồi trên xe và có mỡ trên hai bàn tay của tôi, mọi sự tôi chạm đến cũng đều bị vấy bẩn với mỡ. Khi tôi bước vào nhà với hai bàn tay đầy mỡ, vợ tôi báo cho tôi biết đừng đụng đến một thứ chi cho tới chừng nào hai bàn tay tôi đã được sạch. Cũng vậy, hai bàn tay của con người bị bẩn với tội lỗi và chẳng có chi hết, nhưng huyết của Đấng Christ có thể tẩy sạch chúng. Nếu chúng ta tìm cách đến gần Đức Chúa Trời bằng phương tiện việc làm của hai bàn tay mình, những việc làm ấy sẽ bị nhuốm bẩn với tội lỗi và không đáng nhậm đối với Đức Chúa Trời. Chúng ta phải làm theo y như lời của bài hát dạy chúng ta: “Tay tôi chẳng mang theo thứ gì; tôi chỉ có bám lấy thập tự giá của Ngài mà thôi”.
(2) Đức tin là con đường duy nhứt nhận lãnh ơn phước của Đức Chúa Trời. Không những Phaolô nói cho chúng ta biết được cứu là bởi đức tin, mà ơn phước của Đức Chúa Trời còn đến duy chỉ bởi đức tin mà thôi. Tuần vừa qua hết thảy chúng ta đều thành khẫn cầu nguyện cho người bạn yêu dấu kia được hồi phục. Câu trả lời cho sự cầu nguyện đó không dựa trên sự chúng ta làm đúng theo những luật lệ thiêng liêng đâu, mà dựa trên đức tin. Chúng ta thường quên rằng con đường cứu rỗi đó cũng là con đường hạnh phước duy nhứt.
(3) ‘Tiệc Thánh’ không vận chuyển ân điển như có người nói với chúng ta; tiệc thánh làm biểu tượng cho ân điển. Có những người cứ khư khư giữ lấy giáo lý nói tới sự tái sanh qua phép báptêm, họ khẳng định rằng một người không thể được cứu nếu không chịu phép báptêm. Sai lầm nầy chỉ cập nhật hoá sai lầm của người Do thái, họ khẳng định một người không thể được cứu nếu không chịu phép cắt bì. Phép báptêm không phải là nguồn của ơn cứu rỗi, song chỉ là một biểu tượng của ơn  ấy. Đó là một hành động bề ngoài làm biểu tượng cho sự thực rằng chúng ta, bởi đức tin, đã được đồng hoá với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài.
Bàn Tiệc của Chúa, mà chúng ta giữ mỗi tuần, không có cách nào chuyển tải ân điển cho bạn được đâu, bạn tôi ơi. Nó làm biểu tượng cho ân điển của Đức Chúa Trời ra khả thi qua Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng tự mặc lấy xác thịt con người và Ngài đã chịu chết trong chỗ của tội nhân, và Ngài ban hiến sự công bình của Đức Chúa Trời cho hết thảy những ai tin nơi Ngài.
Nguyện Đức Chúa Trời giúp cho bạn gạt qua một bên mọi sự tin tưởng vào bất kỳ việc làm nào mà bạn có thể làm được, và hãy hạ mình xuống tiếp nhận công việc mà Đức Chúa Jêsus Christ đã hoàn tất rồi trên thập tự giá.









Rôma 5: "ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỨC TIN"


Đối tượng của đức tin 

Phần giới thiệu

Cha tôi, ông có mặt ở đây sáng hôm nay, thuật lại câu chuyện lúc tôi đến dự đám cưới của dì tôi. Đám cưới được tổ chức tại Giảng đường Hội Thánh First Methodist. Hai người em của tôi còn nhỏ và chúng cùng đến dự với bố mẹ tôi tại nhà thờ, còn tôi đã lớn rồi, được phép lái xe với dì Helen lớn hơn tôi nhiều tuổi. Phải, chúng tôi đến với tiệc cưới, nhưng hôm ấy trời sương mù nhiều đến nỗi dì Helen phải đi lạc, vì thế chúng tôi không đến tại nhà thờ nầy mà đến tại giảng đường Perkins, ở đó cũng có tổ chức một đám cưới nữa. Chúng tôi bước vào và ngồi suốt cả đám cưới và dì Helen không nhận ra có gì sai. Sau đó, chúng tôi trở về lại nhà ông bà ngoại của tôi để dự tiệc. Ở đó, cha tôi nghe dì Helen nói. “Ồ, em nhận ra cha của cô dâu rồi. Cô dâu chắc chắn là khác lắm, nhưng đám cưới ấy cũng đẹp lắm mà?”
Việc tình cờ hóm hỉnh nầy minh hoạ cho cách hóm hỉnh mà một số người đang tìm phương đến gần Đức Chúa Trời. Họ biết rằng trông họ rất thành thật và có đức tin, nhưng họ dường như quên mục tiêu của đức tin, cũng như đối tượng của đức tin họ. Đặt đức tin nơi ai đó khác hơn Đấng Christ là chẳng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời hơn là đến dự đám cưới không đúng, bạn đã bỏ qua đám tiệc của một cô dâu đúng nghĩa.
Phaolô, ở Rôma 1-4, đã thiết lập sự kiện con người được cứu bởi đức tin. Giờ đây, ở chương 5, Phaolô nhắm thẳng vào đối tượng của đức tin đó. Ở các chương 1- 4 các hình thức động từ và danh từ của từ ngữ đức tin đã được sử dụng 36 lần, nhưng sau Rôma 5.2 từ ngữ nầy không được dùng mãi cho đến chương 9. Tuy nhiên, danh của Đấng Christ, đã được sử dụng 5 lần giữa phần giới thiệu sách và Rôma 4.24, bây giờ đột nhiên được sử dụng 10 lần trong chương nầy. Phần bàn bạc nhấn mạnh rõ nét từ ý nghĩa của đức tin cho đến đối tượng của đức tin đó. Chúng ta hãy quay trở lại và lần theo sự bàn bạc của chúng ta cho đến điểm nầy để đặt đối tượng của đức tin vào đúng viễn cảnh.
Mục đích của Phaolô trong bốn chương đầu tiên của sách Rôma là để chứng minh cho độc giả của ông thấy cách duy nhứt một người được xưng công bình và nhơn đó có được sự cứu rỗi và sự sống đời đời là nhờ vào đức tin. Phaolô nói, thật là khó cho một người được cứu bởi mọi nổ lực riêng của mình. Sau khi cho biết tình trạng nầy, Phaolô xử lý với 3 đối tượng khả thi.
Nắm lấy vai trò trạng sư bên nguyên của Đức Chúa Trời, ông đối mặt với đối tượng thứ nhứt, kẻ ngoại đạo hay con người tự nhiên. Con người nầy luận như sau: “Tôi không chấp nhận sự kiện con người phải được xưng công bình bởi đức tin vì tôi chẳng nhìn biết Đức Chúa Trời. Vì thế, Đức Chúa Trời là bất công khi xét đoán tôi chỉ vì tôi đi theo đường riêng mình và không có đức tin nơi Đấng Mêsi. Tôi đáng được tha thứ và được ban cho sự sống đời đời vì tôi không biết”. Phaolô trả lời cho vấn đề nầy: “Bạn không nhìn biết Đức Chúa Trời vì mọi loài thọ tạo đang xưng ra thực tại của Ngài. Bạn phải bị xét đoán trên cơ sở những gì bạn đã làm với tri thức ít ỏi mà bạn có. Bạn đã chối bỏ ít nhất những gì Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho bạn. Vì thế, Đức Chúa Trời là công bình trong việc xét đoán bạn. Tội lỗi bị kết án”.
Giờ đây, bị cáo thứ hai bước tới. Hắn là một người Do thái và là một con người đạo đức. Hắn luận như sau: “Tôi chối bỏ vấn đề cho rằng sự xưng công bình phải nhơn theo đức tin. Tôi không cần các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời để được cứu. Tôi sống đạo đức và thích ứng với mọi tiêu chuẩn riêng mà tôi nghĩ tôi phải theo. Tôi có thể kiếm được ơn cứu rỗi trên cơ sở tôi sống đạo đức và tuân giữ các tiêu chuẩn mà tôi biết”. Phaolô trả lời cho sự bàn luận nầy: “Đức Chúa Trời sẽ xét đoán bạn theo các tiêu chuẩn của riêng bạn. Tuy nhiên, bạn phải tuân giữ trọn vẹn các tiêu chuẩn đó để được Đức Chúa Trời chấp nhận một khi con đường của bạn chẳng có khoản nào dành cho sự tha tội. Nhưng bạn không cần phải sống nhơn đức như bạn có thể sống vì bạn đã phạm những việc bạn xét đoán người khác đang phạm phải. Vì thế, Đức Chúa Trời là công bình trong việc xét đoán bạn. Tội lỗi bị kết án”.
Bây giờ, Phaolô xây sang bị cáo thứ ba, người Do thái tôn giáo. Người nầy luận như sau: “Tôi chối  bỏ sự kiện cho rằng chúng ta phải được xưng công bình bởi đức tin. Là một người Do thái, tôi có nhiều lợi thế. Vì tôi là công cụ được chọn của Đức Chúa Trời, tôi phải được cứu. Đức Chúa Trời sẽ là bất công trong việc xét đoán những ai Ngài sử dụng như loại công cụ trong thế gian”. Đối với hạng người nầy, Phaolô nói: “Luật pháp đã được viết ra cho người Do thái. Nhưng bạn không tuân giữ luật pháp. Khi bạn từ chối công cụ của Đức Chúa Trời theo ý định Ngài đã được tỏ ra rồi, bạn đánh mất quyền được cứu trên cơ sở nầy. Đức Chúa Trời là công bình trong việc xét đoán bạn. Tội lỗi bị kết án”.
Vì vậy trong hai chương đầu tiên của sách Rôma, Phaolô đã tuyên bố rằng một người phải được xưng công bình bởi đức tin và người ấy phải tỏ ra rằng sự thiếu hiểu biết, đạo đức hay luật pháp không thể cung ứng một nền tảng để người ta được cứu.
Sau khi tỏ ra cho người ta thấy được nội dung tình trạng hư mất của họ trong các chương 1-2, Phaolô, ở chương 3, mô tả vẻ đẹp ơn cứu của Đức Chúa Trời bởi đức tin. Phaolô tỏ ra trong chương 3 rằng khi con người sống tồi tệ đủ và hoàn toàn không thể xưng mình là công bình ở trước mặt Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn sai Con của Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, đến chịu chết trên thập tự giá. Sự chết nầy Đức Chúa Trời đã chấp nhận như một sự trả giá đầy đủ cho tội lỗi của hết thảy loài người. Ở chỗ nầy Đức Chúa Trời vừa là công bình vừa là Đấng xưng công bình cho hết thảy những ai đặt đức tin của họ nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Phaolô ở đây tỏ ra rằng sự trông cậy duy nhứt của con người để được vào trong thiên đàng là phải để cho Đức Chúa Trời cung ứng con đường. Con đường đó, Phaolô nói, là bởi đức tin. Con người, trong tình trạng vô vọng của mình, có thể đặt đức tin mình vào điều khoản dành cho tội lỗi và phải hoàn toàn được xưng công bình bởi đức tin nơi Đấng Christ.
Thế nhưng người Do thái sẽ nói: “Há đây chẳng phải là con đường mới về sự cứu rỗi sao?” Ở chương 4 Phaolô nói: “Không, vì nguyên tắc của sự xưng công bình bởi đức tin là chất keo giữ Giao Ước cũ lại với nhau”. Ở chương 4, Phaolô đưa ra bốn lý do tại sao Cựu Ước sẽ trở thành một mớ dối trá nếu không có nguyên tắc của sự xưng công bình bởi đức tin. Phaolô nòi: “Trước tiên, Ápraham trong Cựu Ước đã được xưng công bình bởi đức tin. Thứ hai, phép cắt bì là một dấu hiệu của đức tin và chỉ có ý nghĩa nếu chúng ta được xưng công bình bởi đức tin. Thứ ba, lời hứa mà Đức Chúa Trời ban cho Ápraham được coi là tốt lành bởi đức tin. Sau cùng, sự cứu rỗi trong Luật pháp là bởi đức tin”.
Vì vậy, Phaolô trong bốn chương đầu tiên của sách Rôma đã trình bày nguyên tắc cho thấy con đường duy nhứt mà một người sẽ được xưng công bình là bởi đức tin. Ông đã chỉ ra rằng các phương tiện dốt nát, đạo đức, và tôn giáo là chưa đủ để được cứu. Ông nói rất rõ ràng rằng đức tin là con đường duy nhứt mà hạng người tội lỗi sẽ được cứu và minh hoạ rằng loài người trong mọi thời đại đều được cứu bởi chính nguyên tắc nầy.
Bây giờ ở chương 5, Phaolô nhấn mạnh từ đức tin đến đối tượng của đức tin chúng ta, để chỉ ra cho chúng ta thấy ơn cứu rỗi của chúng ta bởi đức tin đã được hoàn tất như thế nào!?! Ở các câu 1-11, Phaolô  tỏ ra rằng chúng ta đã được đưa vào mối giao thông với Đức Chúa Trời qua Thân Vị của Đức Chúa Jêsus Christ. Ở các câu 12-21, Phaolô tỏ ra rằng công tác của Đấng Christ trên thập tự giá là phương tiện hợp lý duy nhứt của sự xưng công bình và mọi tiện ích của sự cứu rỗi đã được chu cấp cho nhân loại qua hành động nầy. Trước tiên, chúng ta hãy nhìn vào các câu 1-11.

Công tác của Đức Chúa Jêsus Christ đã mang lại cho chúng ta sự hoà thuận và mối giao thông với Đức Chúa Trời (5.1-11)

Đức Chúa Jêsus Christ đã làm cho chúng ta được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời

Nếu có ai đến hỏi bạn: “Sau khi tìm kiếm, thì đâu là của cải quí giá nhất trong thế gian”, bạn sẽ trả lời sao? Có người sẽ nói là tiền bạc, có người sẽ nói là sự khôn ngoan, có người sẽ nói vẽ đẹp hay được lòng người. Nhưng nếu bạn cần phải phân tích những điều nầy, tôi nghĩ bạn sẽ thấy rằng ấy chẳng phải là tiền bạc mà người ta cần đâu, thay vì thế họ sẽ nghĩ tiền bạc đang bắt lấy họ. Chẳng phải là sự khôn ngoan hay vẽ đẹp hoặc sự được lòng người, mà đó là sự an ninh và bình an mà người ta tin những thứ nầy sẽ đem lại. Nhưng có phải những thứ nầy thực sự đem lại những điều chúng đang quảng bá không? Vua Fasel là người giàu có nhất trên thế gian, nhưng ngày nay thi thể ông đang nằm trong một mộ địa không được đánh dấu. Marilyn Monroe là nữ hoàng xinh đẹp của Hollywood, nhưng nàng đã tự tử. Leonardo Da Vinci là con người lỗi lạc nhất của thời kỳ Phục Hưng, nhưng ông ấy ngã chết như một con người thất vọng đã thất bại trong việc tìm ra mục đích của cuộc sống.
Bạn thấy đấy, ấy chẳng phải là tiền bạc, sự khôn ngoan, vẽ đẹp hay được lòng người mà người ta cần nhất đâu! Chỉ cần hỏi hạng người đang sở hữu những điều nầy thì bạn sẽ thấy họ chẳng thoả lòng đâu. Thay vì thế, cái cần tìm nằm ở đàng sau mọi sự trong thế gian là sự bình an và an ninh ở bên trong. Đây mới là nhu cần thực của từng con người. Sự bình an ở bên trong không phải là sự kết thúc của các nan đề ở ngoài mặt. Thay vì thế, đây là khả năng để giữ lấy sự kiên định vì bạn có thể nhìn thấy tận cùng của mọi nan đề và biết rằng bạn sẽ không lên tới đỉnh đâu. Chúng ta là những cá nhân phải đối mặt với nan đề,  ấy là chúng ta không thể điều khiển mọi hoàn cảnh một cách trọn vẹn được. Hơn nữa, có ai đó đang nắm lấy quyền điều khiển mọi hoàn cảnh của chúng ta — chính Đức Chúa Trời, và nếu Ngài nghịch lại chúng ta, chúng ta chẳng có cơ hội nào để có được sự bình an ở trong lòng. Phương thức duy nhứt chúng ta có thể có được sự bình an ở trong lòng là phải làm hoà lại với Đức Chúa Trời, nhưng làm sao con người là hạng tội nhân và đang đứng trong cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời có thể làm hoà lại, thay đổi, tới mức độ Đức Chúa Trời sẽ làm hoà với họ cho được? Phaolô nói cho chúng ta biết trong Rôma 5.1-2 rằng Chúa Jêsus đã làm điều nầy cho chúng ta. Ngài đã chịu chết và đã trả giá cho mọi tội của chúng ta. Khi ấy chúng ta đã được xưng công bình, như đã được minh chứng ở chương 1-4, bởi tin nơi Ngài. Giờ đây, Phaolô nói, người nào tin, có thể và đang có sự hoà thuận với Đức Chúa Trời nhờ những gì Chúa Jêsus đã làm.
Câu 2 cung ứng cho chúng ta một bức tranh chỉ ra sự hoà thuận lại với Đức Chúa Trời đã hình thành như thế nào khi nó chép: là Đấng đã làm cho chúng ta cậy đức tin vào trong ơn nầy. Ấy chẳng phải chúng ta đến với Đức Chúa Trời đâu, mà thay vì thế Chúa Jêsus đã mang chúng ta đến với Ngài và làm cho chúng ta được hoà thuận lại, làm cho chúng ta ra ngay thẳng ở trước mặt Đức Chúa Trời bởi sự chết của Ngài. Sự chúng ta hoà thuận lại với Đức Chúa Trời không phải tiếp nhận được trên cơ sở những gì chúng ta làm đâu, mà trên cơ sở những gì Đấng Christ đã làm cho chúng ta. Chính trong công tác của Ngài, chớ không phải việc làm của chúng ta, mà chúng ta nhận được sự sống và vì vậy sự chúng ta hoà thuận lại với Đức Chúa Trời không thể bị mất đi vì công tác của Đấng Christ đã được làm ra rồi và sẽ không bao giờ thay đổi.

Vì cớ chúng ta chắc chắn được cứu, chúng ta có thể khoe trong ba việc:

(1) Ở câu 2, Phaolô nói chúng ta có thể khoe mình trong sự trông cậy về vinh hiển của Đức Chúa Trời. Ở chương 3, Phaolô đã tỏ ra rồi sự khoe mình hay đặt lòng trông cậy vào công việc của con người là ở ngoài lề. Còn ở đây, ông nói cho chúng ta biết chúng ta có thể đặt lòng tin của mình vào sự trông cậy về vinh hiển của Đức Chúa Trời. Bây giờ, phần định nghĩa theo Kinh Thánh về sự trông cậy là: “tính toán trên một tương lai đã được bảo đảm cho chúng ta”. Tương lai ấy như đã được lý giải ở Rôma 8.30, ấy là chúng ta sẽ được vinh hiển, chúng ta sẽ được biến đổi ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ. Ở đây, Phaolô đang nói rằng chúng ta có thể khoe mình về điều nầy vì ơn cứu đã đạt được bởi Đấng Christ chớ không nương theo các việc làm của con người. Cũng vậy, chúng ta có thể hả hê hay khoe mình trong địa vị của chúng ta vì chúng ta đang ở trong sự hoà thuận với Đức Chúa Trời và được bảo đảm cho một tương lai vinh hiển.
(2) Ở các câu 3-10, Phaolô nói cho chúng ta biết chúng ta có thể khoe mình hay hả hê trong nghịch cảnh của chúng ta. Từ ngữ Hy lạp nói tới tribulation [hoạn nạn] “cảnh quẩn bách”. Đây là một thế lực ở bề ngoài đang thúc đẩy vào bạn và ép áp lực vào bạn để bạn phải đầu hàng và tuân theo nó. Phaolô nói cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể hả hê trong những cảnh ngộ nầy trong vai trò tín đồ vì những điều chúng tạo ra. Mọi áp lực của cuộc sống, Phaolô nói, đã được Đức Chúa Trời sử dụng để tạo ra sự nhịn nhục. Đây là đức tính của một người khi đối diện với các nan đề mà người không làm chủ được và đối với chúng người chỉ có đáp ứng: một là chịu đựng với giận dữ hoặc chịu đựng với nhịn nhục, hãy chọn chịu đựng với nhịn nhục. Phaolô tiếp tục nói rằng luyện tập sự nhịn nhục ở dưới áp lực tạo ra trong chúng ta đức tính đã được chứng minh. Nhịn nhục trong những cơn thử thách minh chứng rằng các đức tính tin kính chúng ta tập luyện là những điều mà chúng ta thực sự phải giống với, dù mưa hay nắng. Minh chứng nầy về sự tiến bộ của chúng ta hướng tới sự tin kính khi ấy khích lệ chúng ta đủ để tin tưởng trong sự trông cậy của chúng ta  —  mọi chương trình của chúng ta về vinh hiển trong tương lai mà Đức Chúa Trời bảo đảm cho chúng ta.
Nhưng có người sẽ thắc mắc: “Làm sao chúng tôi biết mình sẽ không rơi vào chỗ thất vọng? Làm sao chúng tôi biết Đức Chúa Trời sẽ đưa chúng tôi qua những cơn thử thách để được biến đổi ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ và được cứu cho đến đời đời?” Câu trả lời của Phaolô là: “Chúng ta biết vì tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta”. Các câu 6-10 bao gồm một phân đoạn quan trọng không đủ thì giờ để thừa nhận trong một thời gian ngắn. Làm ơn lắng nghe khi chúng ta cùng nhau đọc chúng và nhập tâm lời của Đức Chúa Trời đưa lẽ thật nầy về nhà với bạn nhé!
“Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Huống chi nay chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào! Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào!” (Rôma 5.6-10).
(3) Câu 11 cung ứng cho chúng ta lý do thứ ba để mà khoe mình — chúng ta đã nhận lãnh sự phục hoà với Đức Chúa Trời nhờ vào sự chết của Đức Chúa Jêsus Christ. Từ ngữ reconciliation [hoà thuận], có nghĩa là: “đã được thay đổi”. Ở đầu sách nầy, chúng ta  đã tiếp thu, vì cớ tội lỗi chúng ta là thù nghịch với Đức Chúa Trời. Nhưng sự chết của Chúa Jêsus đã làm thay đổi con người đến tận chỗ mà Đức Chúa Trời mong muốn. Giờ đây, Đức Chúa Trời thoải mái hoà thuận lại với con người mà chẳng có gì làm hại tới bổn tánh thánh khiết và công bình của Ngài. Thật là quan trọng khi chú ý thấy hiệu quả sự chết của Đấng Christ đối với con người được gọi là sự phục hoà — nghĩa là, tác dụng làm thay đổi con người trong ánh mắt của Đức Chúa Trời. Tác dụng sự chết của Đấng Christ đối với Đức Chúa Trời được gọi là sự làm nguôi, có nghĩa là sự công bình của Đức Chúa Trời đã được thoả mãn hoàn toàn. Sự phục hoà, phương diện đối với con người trong sự chết của Đấng Christ, không hề tuyên bố cứu bất cứ ai. Nó chỉ đề cập tới mọi người có thể được cứu. Mặc dù như câu 10 nói cho chúng ta biết, sự phục hoà đã xảy ra khi chúng ta còn là kẻ nghịch thù, đã chết trong tội của chúng ta, II Côrinhtô 5.20 chỉ ra rằng chúng ta phải tiếp nhận sự phục hoà đó để thưởng thức mọi phước hạnh của nó. (Hãy đọc II Côrinhtô 5.20).
Cho nên ở các câu 1-11, Phaolô đã tuyên bố rằng vì cớ đối tượng của đức tin chúng ta — Đức Chúa Jêsus Christ, cùng những gì Ngài đã làm — chúng ta được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời và chúng ta có thể khoe mình trong tình trạng, trong nghịch cảnh, và trong của cải của sự phục hoà của chúng ta.

Sự xưng công bình cho mọi người đến qua sự công bình của một người, là Đức Chúa Jêsus Christ (5.12-21)

Giờ đây, chúng ta đến với các câu 12-21. Chúng ta biết từ Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời, trước khi sáng thế, đã quyết trên một chương trình cứu chuộc đặc biệt và đã thiết lập các nguyên tắc cần thiết cho sự cứu rỗi. Một trong các nguyên tắc mà Ngài đã thiết lập là cần thiết cho chương trình nầy là nguyên tắc của chức năng làm đầu, làm đại biểu. Bởi cụm từ nầy, làm đầu làm đại biểu, chúng ta muốn nói rằng các hành vi của một người được gắn vào, đưa vào câu chuyện, của những kẻ mà người ấy làm đại diện cho. Chúng ta thực hành nguyên tắc nầy mỗi ngày. Nguyên tắc có cả những kết quả tốt và xấu cho chúng ta và chúng ta có khuynh hướng muốn tận hưởng điều tốt trong khi tìm cách từ chối điều xấu. Ở Hoa kỳ, chính quyền liên bang đại diện cho chúng ta. Nếu họ tuyên chiến với nước khác, chúng ta trở thành kẻ thù của quốc gia đó dù chúng ta bất đồng với sự tuyên chiến của chính phủ. Chúng ta hưởng nhiều phúc lợi từ mọi hành động của chính phủ. Chúng ta có luật pháp và trật tự, chúng ta có hàng rào phòng thủ chống lại các quốc gia gây hấn, chúng ta có những chiến tuyến, các hố cá nhân và mọi sự. Nhưng khi ngày 15 tháng 4 qua đi, hết thảy chúng ta sẵn sàng không xưng mối quan hệ của chúng ta với chính phủ của mình. Tuy nhiên, chúng ta có sự hợp lý và công nhận nó. Nguyên tắc đại diện hay đứng đầu liên bang nầy cũng là một phần trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Chính bởi lẽ thật nầy mà Phaolô đặt phần luận lẽ chính  của ông cho rằng sự cứu rỗi đến qua hành động công bình của một người, là Đức Chúa Jêsus Christ. Phaolô  sẽ nói như thế bằng cách trước tiên chứng minh nguyên tắc đại diện từ những tác dụng xấu của nó và sau cùng trong ánh sáng của nó phần kết luận rất hợp lý cho rằng ơn cứu rỗi đến qua một người.
Khi chúng ta bắt đầu tiểu đoạn nầy có hai việc thoạt đến trong trí. Thứ nhứt, Phaolô đã dùng bốn chương thiết lập sự cần thiết của đức tin để được cứu. Từ ngữ, đức tin, không được sử dụng mãi cho đến chương 9. Vì lẽ đó, không một câu nào trong tiểu đoạn nầy được xem là hữu hiệu nếu không có sự luyện tập của đức tin.
Thứ hai, thật là quan trọng khi chú ý phần nhấn mạnh của phân đoạn nầy. Chữ “một” đã được sử dụng 12 lần trong tiểu đoạn nầy và từ ngữ “mọi” đã được sử dụng 8 lần. Ý chính trong phân đoạn, ấy là các phúc lợi hay hậu quả nhất định đến qua một cá nhân cho đến nhiều cá nhân. Đây là lý do tại sao Phaolô  sử dụng từ “mọi”. Vấn đề quan trọng về từ ngữ nầy không phải là số lượng hay nội dung của những chữ ấy mà là có nhiều hơn một người trong đó — nhiều người. Bây giờ, rõ ràng là “nhiều người” nằm trong chỗ mọi người vài lần trong phân đoạn, nhưng đây không phải là mục đích đâu. Mục đích, ấy là hành động của một đại biểu đã được gắn cho nhiều cá nhân.
Bây giờ, chúng ta hãy mở phân đoạn Kinh Thánh của chúng ta ra. Ở các câu 12-21, chúng ta sẽ thấy hai điểm quan trọng đã được đưa ra. Phaolô  chỉ ra nguyên tắc làm đầu làm đại biểu là nguyên tắc theo Kinh Thánh. Trước tiên, Phaolô chỉ ra tấm gương của Ađam cho thấy rõ nguyên tắc làm đầu làm đại biểu là nguyên tắc theo Kinh Thánh. (Hãy đọc các câu 12-14).
Trước nhứt, Phaolô chỉ ra tội lỗi vào trong thế gian qua một người. Ấy chẳng phải qua Satan là kẻ phạm tội đầu tiên trong cõi thọ tạo. Phaolô cũng không gán tội lỗi cho người đàn bà, người đầu tiên đã phạm tội, mà gán cho Ađam, một người đàn ông, vì như chúng ta sẽ thấy hành động tội lỗi của Ađam đã được gắn cho toàn thể nhân loại. Khi ấy Phaolô mới lưu ý rằng sự chết bước vào thế gian qua một tội đó và lan rộng cho mọi người vì hết thảy đều đã phạm tội.
Giờ đây thắc mắc phát sinh: Làm sao mà hết thảy đều đã phạm tội? Câu trả lời của Phaolô rất là rõ ràng. Ông cho rằng đây không phải là tội cá nhân vì tội cá nhân không được gắn vào câu chuyện của loài người cho tới khi có luật pháp Môise. Tuy nhiên, con người đã chết vì cớ tội lỗi của họ. Tội lỗi Phaolô  nói tới là tội được gắn cho hết thảy loài người vì cớ Ađam, trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời, là đầu đại biểu của toàn thể nhân loại.
Phaolô đang nói: “Có một nguyên tắc hợp lý về sự làm đầu trong Kinh Thánh. Điều nầy rất rõ ràng vì chúng ta biết sự chết là kết quả của tội lỗi; hết thảy loài người trước khi có luật pháp đều chết không phải vì tội riêng của họ. Vì lẽ đó, họ đã chết vì tội lỗi được gắn cho họ từ Ađam”. Vì vậy, Phaolô đã thiết lập nguyên tắc làm đầu làm đại biểu là nguyên tắc vận hành trong Kinh Thánh.
Thứ hai, Phaolô chỉ ra rằng nền tảng của đức tin chúng ta là hợp lý vì nói chung sự cứu rỗi của chúng ta tương xứng với sự xét đoán của chúng ta. Cả hai, bạn thấy đấy, đều là kết quả của hành động của một người được gắn vào câu chuyện nói tới nhiều người.

Qua một sự phạm tội:
 + Sự chết xảy đến cho nhiều người (câu 15)
 + Sự phán xét đến (câu 16).
 + Sự chết cai trị (câu 17)
 + Mọi người bị phán xét (câu 18)
 + Mọi người đều là tội nhân (câu 19)
Một hành động được gắn cho nhiều người.
Qua một hành động công bình
 + Ân điển đến cho nhiều người (câu 15)
 + Sự công bình đến (câu 16)
 + Sự công bình tể trị (câu 17).
 + Mọi người đều được xưng công bình (câu 18).
 + Mọi người đều được sự công bình (câu 19)
Một hành động được gắn cho nhiều người.
Giờ đây, chúng ta có thể thấy thể nào các câu 12-21 thích ứng với sự bàn bạc của sách Rôma. Trong các chương 1- 4, Phaolô tuyên bố và chứng minh rằng sự xưng công bình là bởi đức tin trong Đấng Christ. Ở  chương 5.1-11, Phaolô nói khi có sự xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ, vì lẽ đó, chính Ngài đã mang chúng ta đến với Đức Chúa Trời. Sau cùng, ở các câu 12-21, Phaolô nói khi chúng ta được xưng công bình bởi đức tin và được Ngài mang tới cùng Đức Chúa Trời, vì lẽ đó, Ngài là đầu của chúng ta giống như Ađam vậy. Mọi hàm ý của vấn đề nầy cho thấy mọi sự Ngài đã làm, chúng ta đã làm và đây là nền tảng của chương 6 mà chúng ta sẽ nghiên cứu vào tuần tới.

Phần kết luận

Cho nên, chương 5 trình bày cho chúng ta về Đức Chúa Jêsus Christ, là đối tượng của đức tin chúng ta và tuyên bố cho chúng ta biết mọi phước hạnh của ơn cứu rỗi hoàn toàn là kết quả của sự hy sinh công nghĩa của Ngài là đầu đại biểu của chúng ta. Hàm ý của chương 5, ấy là đức tin là tốt lành giống như đối tượng của nó vậy.
Năm ngoái, tôi đã thuật cho bạn nghe câu chuyện nói đến tên cướp đã bị kết án tử hình vì tội ác của mình. Trong khi ở trong ngục chờ hành quyết, hắn lo liệu với viên cai ngục qua đó hắn hy vọng tránh được án phạt. Tên cướp đã giả vờ chết vì bịnh ở trong xà lim của mình. Viên cai ngục khi ấy sẽ đem chôn hắn, nhưng sau đó quay trở lại và đào hắn lên rồi cả hai người sẽ chia chác số tiền đánh cướp được. Mọi sự đều diễn tiến như kế hoạch. Những người lính đã đến, đặt tên cướp vào trong chiếc hòm với thi thể khác là cách làm của nhà tù để bảo toàn công việc và tiền bạc, và chiếc hòm được chôn xuống đất. Tên cướp rất hân hoan khi thấy mình thoát được cách dễ dàng. Khi hắn nằm ở đó cười thầm, tính tò mò của hắn khiến hắn đẩy tấm vải liệm qua một bên để nhìn xem coi người bạn cùng nằm trong quan tài với mình là ai. Trước sự kinh khủng của hắn, hắn khám phá ra đó là thi thể của viên cai ngục, là kẻ sẽ đào hắn lên!
Bây giờ, tôi muốn hỏi bạn, quí bạn ơi, khi sự chết bắt lấy bạn, bạn tin điều chi sẽ cứu bạn tránh khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời? Có phải bạn tin tiền bạc, vẽ đẹp, sự khôn ngoan, thiếu hiểu biết, đạo đức, tôn giáo, các việc lành? Bạn thấy đấy, không một điều gì trong số nầy sẽ giúp được chi cho bạn. Chúng sẽ bị chôn chung với bạn. Thứ có giá trị nhất cho đức tin của bạn, bạn thấy đấy, phải là một người trở lại từ mồ mả và chỉ có một người duy nhứt đã làm được điều nầy, là Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng tôi mời bạn sáng nay hãy tiếp nhận sự phục hoà lại với Đức Chúa Trời của bạn bằng cách đặt trọn đức tin của mình vào công átc của một người, là Đức Chúa Jêsus Christ. Khi ấy, bạn cũng được xưng công bình bởi đức tin, bạn sẽ được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời.





Rôma 6: "TÍNH CẦN THIẾT CỦA SỰ NÊN THÁNH"


Tính cần thiết của sự nên thánh

Phần giới thiệu

Chương 6 trong sách Rôma và phần lý giải thích ứng của nó không những là bắt buộc cho sự nên thánh, mà còn cho sự minh mẫn của bạn nữa đấy. Cách đây mấy năm tôi đến thăm một phụ nữ nằm điều trị ở khu tâm thần của bịnh viện Dallas. Khi chúng tôi ngồi ở cái bàn đặt phía sau những cánh cửa khoá kín dưới sự quan sát thật kỹ lưỡng của các nhân viên chuyên nghiệp, tôi hỏi phụ nữ nầy nan đề của bà là gì!?! Bà ta công nhận mình hoàn toàn thất bại trong nổ lực làm theo sự dạy của Rôma 6. Bà ta đã phấn đấu để làm theo công thức mà nhiều người đã đề nghị từ chương nầy: biết, kể, nộp. Bà nói rằng bà biết rõ mình đã chết với Đấng Christ đối với tội lỗi, và bà đang ra sức để kể như vậy và nộp mình cho Đức Chúa Trời. Nhưng không biết sao điều nầy luôn luôn kết quả trong thất bại. Sự thất bại của bà ta dẫn tới một sự suy sụp thần kinh hoàn toàn. Phần lớn nan đề của bà ta, tôi tin, đều nằm trong thất bại không hiểu chương nầy trong mối quan hệ thích ứng với các chương 7 và 8. Và vì thế, khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu Rôma 6, tôi khuyên bạn nên nghiên cứu chương ấy một cách cẩn thận, không những vì cớ sự nên thánh mà còn vì sự minh mẫn của bạn nữa đấy.
Khi tôi nhớ tới các trường hợp giống như trường hợp của phụ nữ nầy, dù rất cực đoan, tôi được nhắc nhớ tới gánh nặng trách nhiệm lớn lao mà người dạy Kinh Thánh có. Có người thực sự nghe theo những gì tôi giảng rồi cố gắng làm theo. Bất cứ ai giải thích chương 6 như phương pháp kinh nghiệm đời sống Cơ đốc bình thường buộc phải gặp rắc rối theo ý kiến của tôi, vì chương 6 nầy là phần giới thiệu tiểu đoạn của Phaolô nói về quá trình nên thánh. Nó không cung ứng cho chúng ta toàn bộ giải pháp cho vấn đề nên thánh; nó chỉ giới thiệu nhu cần của sự nên thánh mà thôi. Khi đặt vấn đề nầy bằng cách diễn đạt khác, nó không xử lý với phương pháp nên thánh (biết, kể, nộp), mà xử lý với động lực cho sự nên thánh.
Vì vậy chương 6 nầy trong sách Rôma, chúng ta chuyển vấn đề khải thị công bình của Đức Chúa Trời trong đời sống của Cơ đốc nhân, với sự nổi bật không nhắm vào chỗ ‘làm thế nào’ để sống đời sống thuộc linh, mà nhắm vào lý do ‘tại sao’ kìa.

Định nghĩa sự nên thánh

Khi chúng ta nói tới sự nên thánh trong các chương 6, 7, và 8; sẽ không có một nhận định đủ hết về sự nầy chỉ trong một mình chương 6, thật là khôn ngoan khi dừng lại ngắn thôi để định nghĩa sự nên thánh. Sự xưng công bình là Quá Trình bởi đó Đức Chúa Trời tuyên bố một người là công bình trên cơ sở đức tin nơi Thân Vị và công tác của Đấng Christ. Sự xưng công bình là hoạt động của Đức Chúa Trời giải phóng một người ra khỏi tình trạng tội lỗi. Sự nên thánh là hoạt động của Đức Chúa Trời giải phóng Cơ đốc nhân ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Sự xưng công bình gắn sự công bình của Đức Chúa Trời cho con người. Sự nên thánh truyền đạt sự công bình của Đức Chúa Trời qua con người.
Nói chung, sự nên thánh được sắp xếp thành ba phương diện:
(1) Nên thánh theo địa vị, là tình trạng thánh khiết được gắn cho Cơ đốc nhân ngay thời điểm họ quay trở lại với Đấng Christ. Nó không biểu hiện tình trạng thuộc linh của một người như địa vị thuộc linh của người ấy. Các tín hữu thành Côrinhtô có thể được gọi là ‘thánh đồ’ mặc dù họ đã sống trong tình trạng xác thịt (I Côrinhtô 1.2).
(2) Nên thánh tiệm tiến, đề cập tới quá trình trong đời sống hàng ngày bởi đó chúng ta được biến đổi ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ. Đây là quá trình trở nên những gì chúng ta đang có trong Đấng Christ. Điều nầy gồm có sự lột bỏ các thói tật cũ như nói dối, trộm cắp, nói xấu, v.v..., rồi mặc lấy những đức tính giống như Đấng Christ như lương thiện, thương xót, và yêu thương (đối chiếu Côlôse 3.1-10…).
(3) Nên thánh trọn vẹn, là tình trạng thánh khiết mà chúng ta sẽ không đạt được trong đời nầy, nhưng sẽ nhận ra lúc sau cùng chúng ta đang ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy (I Giăng 3.2). Sự nên thánh, lột bỏ con người cũ, rồi mặc lấy sự công bình của Đấng Christ, là ba sự nên thánh có chiều kích theo địa vị, tiệm tiến và trọn vẹn. Sự bàn luận của sứ đồ Phaolô ở Rôma 6, ấy là chúng ta bị bắt buộc phải kinh nghiệm sự nên thánh tiệm tiến vì cớ sự nên thánh theo địa vị kèm theo với thập tự giá ở đồi Gôgôtha.

Thắc mắc dấy lên (6.1-2)

Chương 6 bắt đầu với một thắc mắc:Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? (Rôma 6.1). Thắc mắc nầy không cứ cách nào đó đã được câu nói của Phaolô nhắc tới ở chương 5: “ … nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa (Rôma 5.20b). Thắc mắc nầy có lẽ được hiểu rõ hơn hết khi có trọn tiểu đoạn đứng trước nói tới sự xưng công bình chỉ bởi một mình đức tin. Thắc mắc nầy chắc chắn sẽ nảy ra cho những đối thủ về Tin Lành của Phaolô: “Nếu ơn cứu rỗi là mọi sự thuộc về Đức Chúa Trời, mọi ân sũng, và được dành riêng trên cơ sở một mình đức tin, không có một nổ lực nào về phía con người; nếu mọi tội của chúng ta đòi hỏi phải có và sự thúc đẩy của ân điển Đức Chúa Trời — thế thì tại sao không tiếp tục sống như chúng ta đã sống (trong tội lỗi), hầu cho ân điển của Đức Chúa Trời cứ tiếp tục dư dật luôn?”
Câu trả lời tóm tắt của Phaolô có ở câu 2: Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa? (Rôma 6.2). Khi cụm từ “Chẳng hề như vậy” xảy ra trong sách Rôma, đây là phản ứng rất kịch liệt của Phaolô đối với phần kết luận không thích đáng dựa trên một lời hứa thích đáng. Ân điển của Đức Chúa Trời quá dư dật đối với tội lỗi của con người. Tội lỗi của con người tạo cơ hội cho sự tỏ ra của ân điển. Nhưng chúng ta không nên tiếp tục cuộc sống được đánh dấu bởi tội lỗi ngay trước sự biến đổi của chúng ta. Lý do là vì lối sống ấy sẽ không thích nghi với địa vị của chúng ta trong Đấng Christ. Trong Đấng Christ, chúng ta đã chết đối với tội lỗi. Vậy thì, làm thế nào chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi cho được? Cách sống ấy sẽ chối bỏ địa vị của chúng ta.

Sống trong tội lỗi — cấm đoán về địa vị (6.3-14)

Nếu bạn đến với Rôma 6 để tìm kiếm nước, bạn sẽ thất vọng ngay, vì Phaolô trình bày địa vị của Cơ đốc nhân giống như địa vị đã đạt được qua phép báptêm bằng Đức Thánh Linh, như một lý do tại sao Cơ đốc nhân không thể sống trong tội lỗi như trước kia như người đã sống. Phaolô bắt đầu: Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao? (Rôma 6.3). Chúng ta không mong tìm được nước mỗi lần từ ngữ báptêm xảy ra, vì có vô số trường hợp về ‘phép báptêm không có nước’.
Giăng Báptít công bố: Về phần ta, ta lấy nước mà làm phép báp-tem cho các ngươi ăn năn; song Đấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, ta không đáng xách giày Ngài. Ấy là Đấng sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa (Mathiơ 3.11).
Phaolô viết: Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa (I Côrinhtô 12.13).
Trong tiếng Hy lạp, động từ ‘baptizo’ không những có ý nói ‘nhúng’ hay ‘dìm’ xuống nước, mà còn nói tới “làm cho chết” (bằng cách dìm chết một người hay chiếc tàu bị chìm) [Colin Brown, ed., The New International Dictionary of New Testament Theology (Grand Rapids. Zondervan Publishing House, 1975), Vol. I, p. 144]. Công tác làm báptêm của Đức Thánh Linh gắn chúng ta với Thân Vị và công tác của Đấng Christ theo một phương thức chúng ta cùng dự phần trong công việc của Ngài trên thập tự giá. Chúng ta đồng chết với Ngài.
Sự xưng công bình của chúng ta có liên quan sâu xa khi chúng ta được hiệp với Thân Vị và công tác của Đấng Christ hầu cho chúng ta dự phần trong sự chết của Đấng Christ vì cớ tội lỗi của chúng ta. Ngài đã chịu chết trong chỗ của chúng ta như sự thay thế cho chúng ta. Nhưng khi tham khảo đến sự nên thánh, Đấng đã chết đối với tội lỗi. Trong công tác xưng công bình của Đấng Christ, Ngài giải phóng chúng ta ra khỏi án phạt của tội lỗi; nhưng trong sự chết của Đấng Christ cũng đạt được sự nên thánh của chúng ta, bởi đó Ngài giải phóng chúng ta ra khỏi quyền lực của tội lỗi. Đây là mục đích mà Phaolô đang đưa ra trong các câu 3-11.
Phép báptêm bằng nước không đạt được vừa sự xưng công bình hay sự nên thánh, song nó làm biểu tượng cho việc ấy. Khi chúng ta bị nhúng vào phép báptêm bằng nước, chúng ta làm biểu tượng cho sự thực chúng ta đã chết và được chôn với Đấng Christ. Giống như chúng ta đã dự phần vào tội lỗi của Ađam cùng mọi hậu quả của nó cách đây nhiều năm, cũng vậy bởi phép báptêm bằng Đức Thánh Linh, chúng ta đã dự phần trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Đấng Christ.
Bản ngã cũ của chúng ta, những gì chúng ta là con cái của Ađam, đã chết đối với tội lỗi. Nghĩa là, tội lỗi không còn đòi hỏi hay quyền hành gì trên chúng ta. Giống như Luật pháp chẳng có quyền hành gì trên một con người đã chết, giống như sở rác chẳng phiền hà gì khi thu nhặt một thi thể, cũng vậy tội lỗi không còn đòi hỏi gì trên một người đã chết.
Là người mang lấy tội lỗi của thế gian, tội lỗi có một sự đòi hỏi đối với Đức Chúa Jêsus Christ. Tội lỗi có một món nợ phải truy đòi. Nhưng khi Chúa chúng ta bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài đã chết đối với tội lỗi. Từ khi tội lỗi chẳng đòi gì được nơi Đấng Christ, tội lỗi chẳng đòi gì được nơi chúng ta, là những người đã chết đối với tội lỗi trong Đấng Christ. Vì thế, sự chúng ta dự phần trong sự chết của Đấng Christ đối với tội lỗi hủy phá mọi đòi hỏi mà tội lỗi từng có trên chúng ta.
Nhưng sự đồng hoá của chúng ta với Đấng Christ không kết thúc trong sự chết đối với tội lỗi; nó kéo dài trong sự chúng ta dự phần vào sự sống lại của Ngài đến một mẫu sự sống mới. Không những tội lỗi chẳng đòi gì được nơi chúng ta, mà trong sự hiệp một của chúng ta với Đấng Christ, chúng ta được trưởng dưỡng trong một đời mới. Tội lỗi không còn quản trị trên chúng ta và giờ đây chúng ta có một mẫu sự sống mới, một cuộc sống có khả năng tỏ ra sự công bình  của Đấng Christ. Về địa vị, chúng ta đã chết đối với tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời. Về mặt thực tế, chúng ta không dám đặt mình dưới sự quản trị của tội lỗi nữa, mà phải tỏ ra một đời mới (đối chiếu Côlôse  3.1-13).
Trên cơ sở địa vị của chúng ta trong Đấng Christ, Phaolô không những gạt qua một bên bất kỳ trao đổi nào về việc liên tục sống trong tội lỗi, mà khuyên chúng ta phải chứng tỏ địa vị của mình bằng cách thực thi sự công bình của cá nhân.
“Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình” (Rôma 6.12-13).
Giống như Phaolô sẽ làm sáng tỏ trong mấy câu đầu của chương 7 tội lỗi không còn cai trị trên chúng ta, vì chúng ta không còn ở dưới Luật pháp nữa, mà ở dưới ân điển (câu 14).

Sống trong tội lỗi — cấm đoán thực tế (6.15-23)

Không những có các lý do về thần học hay về địa vị cho thấy tại sao Cơ đốc nhân không thể tiếp tục sống trong tội lỗi — có những lý do thực tế nữa. Một lý do như thế được bàn bạc trong các câu 15-23. Thắc mắc cũng quan trọng giống như thắc mắc ở câu 1. Vậy thì làm sao! Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển, thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy! (Rôma 6.15).
Phaolô đề ra một nguyên tắc rất quan trọng  ở câu 16, nghĩa là chúng ta trở thành hạng nô lệ của bất cứ điều chi chúng ta chọn vâng theo. Nếu chúng ta nhượng bộ đối với tội lỗi và phục theo nó, chúng ta là hạng nô lệ cho tội lỗi. Nếu chúng ta phục theo Đức Chúa Trời và hầu việc Ngài, chúng ta đã trở thành hạng nô lệ của Ngài.
Khi chúng ta chưa được cứu, chúng ta không có một sự lựa chọn nào hết, nhưng đã sống bởi chính bổn tánh của chúng ta là hạng nô lệ cho tội lỗi. Bông trái của sự hầu việc như thế không xứng đáng cho sự ngợi khen, vì những việc chúng ta đã làm giờ đây chúng ta thấy xấu hổ lắm (câu 21). Khi chúng ta quay sang Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Đấng Christ và đã tiếp nhận Tin Lành, chúng ta được buông tha ra khỏi tình trạng phục theo tội lỗi và trở nên tôi tớ của Đức Chúa Trời.
Chúng ta không tự dối mình bằng cách giả định hai điều khả thi nầy — nô lệ cho tội lỗi, hay nô lệ cho Đức Chúa Trời — chỉ có hai vấn đề cho Cơ đốc nhân. Trong thực tế, chúng ta phải là điều nầy hay là điều kia. Chúng ta thực sự chưa hề được tự do, nhưng chỉ được tự do chọn lựa một là nô lệ cho tội lỗi hoặc nô lệ cho Đức Chúa Trời mà thôi.
E chúng ta sẽ đưa ra tư tưởng về sự phục vụ cho tội lỗi, Phaolô đối chiếu hai loại nô lệ kia. Có sự phục theo Đức Chúa Trời và có sự phục vụ cho tội lỗi. Trong khi nô lệ cho tội lỗi tạo ra sự bất công và nó gây ra sự xấu hổ, còn phục theo Đức Chúa Trời tạo ra bông trái công bình và sự nên thánh. Kết quả sau cùng của tội lỗi là sự chết, đang khi kết quả của sự công bình là sự sống đời đời.
Vì vậy, không những tiếp tục sống trong tội lỗi đi ngược lại với địa vị của chúng ta trong Đấng Christ là chết trong tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời, và chúng ta xưng nhận điều nầy qua phép báptêm, mà sống như thế còn phạm vào từng nguyên tắc của nhận thức chung, từ lúc nó xác lập chúng ta là hạng nô lệ cho tội lỗi, tạo ra sự bất công đáng xấu hổ, và đi theo con đường dẫn đến chốn sự chết.
Những gì chúng ta nhìn thấy trong chương 6 không phải là phương pháp của sự nên thánh mà là động lực cho sự nên thánh đó. Chúng ta phải bỏ lối sống tội lỗi ở sau lưng rồi tìm cách dâng thân thể mình cho Đức Chúa Trời hầu cho sự công bình của Ngài sẽ được thể hiện ra qua chúng ta.
Chúng ta đang tiếp thu từ chương 6 nền tảng cho sự nên thánh của chúng ta sẽ được tìm thấy ở cùng một chỗ mà chúng ta tìm thấy điều khoản cho sự xưng công bình của chúng ta — tại thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. Giống như Chúa chúng ta đã chịu chết vì tội lỗi và đã sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta, cũng vậy Chúa chúng ta đã chết đối với tội lỗi và đã được sống lại để sống đời sống của Ngài cho Đức Chúa Trời.
Chẳng có một việc làm nào mà bạn và tôi có thể hoàn thành sẽ kiếm được ơn cứu rỗi. Việc làm ấy đã được hoàn tất trên thập tự giá của đồi Gôgôtha. Chẳng có việc làm nào mà bạn và tôi có thể hoàn thành hầu đạt tới sự nên thánh. Sự nên thánh của chúng ta đã đạt được chỉ bởi sự chúng ta đồng hoá với Đấng Christ trong sự chết của Ngài đối với tội lỗi và trong sự sống lại của Ngài trong đời mới.
Cái điều làm cho tôi phải bối rối là sự giải thích chương nầy, rồi xem nó là phương pháp để đạt tới sự nên thánh, thay vì là động lực của chúng ta để đạt tới sự nên thánh. Những gì chúng ta tiếp thu được từ chương 7, ấy là mặc dù sự nên thánh tuyệt đối là cần thiết, vì vậy tuyệt đối khó mà đạt được qua sự phấn đấu và nổ lực của con người. Sự nên thánh không thể được tạo ra qua sự thức tỉnh, sự phong thánh và cung hiến. Sứ điệp đẹp đẽ trong Rôma 8 ấy là những gì bản thân chúng ta không thể làm được, Đức Chúa Trời đã hoàn tất rồi qua công tác của Con Ngài, và điều nầy đã đạt được qua Đức Thánh Linh bởi đức tin.

Phần ứng dụng

Chắc chắn chúng ta phải công nhận trước hết tính cần thiết của sự nên thánh dành cho Cơ đốc nhân. Hết thảy chúng ta thường trình bày Tin Lành giống như một sự thay đổi hay điều gì đó vô nghĩa thêm vào đời sống của một Cơ đốc nhân. Nó giống như một hồ sơ đầu tư khác chúng ta thêm vào chiếc cặp giấy của chúng ta, hay sự bảo hiểm khi các hợp đồng khác của chúng ta thất bại.
Sứ điệp của Tin Lành đòi hỏi phải có một sự thay đổi cuộc sống ở tận gốc. Sự kêu gọi của Tin Lành là sự kêu gọi phải ăn năn — phải thay đổi. Tiếp nhận điều khoản của Đức Chúa Trời về sự công bình trong Đấng Christ đòi hỏi phần tỏ ra sự công bình trong đời sống của chúng ta và gạt bỏ tội lỗi đi. Cái thiếu sót lớn trong sự làm chứng của Cơ đốc giáo là đời sống của những người đã thất bại không công nhận rằng Tin lành đòi hỏi một sự thay đổi tận gốc rễ. Không phải một sự thay đổi mà chúng ta đang khởi xướng, mà là một sự thay đổi với nó chúng ta đồng cộng tác.
Thứ hai, chúng ta phải công nhận sự sai lầm của những người hiểu chương nầy dạy rằng một người từng kết hiệp với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài, người ấy (nam hay nữ) không có khả năng phạm tội. Không những chương 7 và nhiều phần Kinh Thánh từ chối điều nầy, mà kinh nghiệm của chúng ta cũng thế nữa. Phần thách thức chắc chắn của Tân Ước, ấy là lối sống của chúng ta sẽ thích ứng với địa vị của chúng ta.
Sau cùng, chúng ta đừng tìm kiếm loại công thức — biết, kể, nộp — rất dễ bị dùng sai thành một loại công việc mà chúng ta hoàn thành để được nên thánh. Chương nầy không nhắm vào sự chú ý của chúng ta về cách thức đạt được sự nên thánh nhiều cho bằng chương nầy nhắm vào lý do tại sao. Ở đây, chúng ta tìm thấy không phải phương pháp của sự nên thánh, mà là động lực của sự nên thánh.